 | Thông tin liên quan: Hợp với nhân sinh22/08/2010 09:56' AM Nghệ thuật sinh ra để bù đắp cái chưa hoàn thiện của con người. Khi xã hội có điều bất cập thì nó lên tiếng, khi xã hội thiếu thốn thì nó vẽ ra những viễn cảnh tương lai. Vì thế cái mới là mục đích, tự do là phương tiện của nghệ thuật – một hoạt động có tính điều chỉnh và tự điều chỉnh cơ chế hoạt động của mình. Điều này phụ thuộc vào ba mặt: hành nghề ở mức độ chuyên nghiệp hóa, yêu cầu một thiết chế nghề nghiệp (luật nghệ thuật) và tự do sáng tạo... Nguyễn Khải, nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi24/08/2009 11:07' PM Trước hết, tôi muốn nói điều này: đấy là người tài năng nhất trong thế hệ của chúng tôi, thế hệ những người cầm bút vậy mà hóa ra vắt qua cả mấy thời kỳ lịch sử quan trọng: một chút thời Pháp thuộc, đầy đủ Cách mạng Tháng Tám, đẫm mình trong hai cuộc chiến tranh lớn, và cả hòa bình nữa... Một nhà khoa học nước Pháp: Marcelin Berthelot09/06/2009 10:45' AM Khoa học ngày một tấn tới, từ một trăm năm trở lại đây đã biến cải hẳn mặt địa cầu. Ta đứng xa mà trông những cảnh tượng kỳ kỳ quái quái, hằng ngày xuất hiện ra trước mắt ta, vừa kinh hãi, vừa cảm phục, không ngờ một khối óc mềm của con người mà làm nên những sự kinh thiên động địa như thế. Tuy ngày nay không tin thần thánh như xưa, không cho các công cuộc kỳ diệu ấy là bởi tay những bậc “siêu nhân” làm ra, nhưng lại đặt ra một vị thần mới, vô hình, vô ảnh, gọi là thần Khoa Học. Ghi chú về nghệ thuật25/10/2008 11:18' AM Tâm trí tôi như một vùng đồi núi hoang vắng rộng rãi nhưng cũng chật hẹp vì không có cơ cấu hạ tầng của xã hội hiện đại. Sự học hành của tôi không cho phép mở những con đường lớn vào khoa học. Tuy vậy tôi cũng đã lần mò ở mọi ngõ ngách của các lĩnh vực và các ngành khoa học qua những cuốn sách dày, mỏng, Đông, Tây, cứ ngẫu nhiên rơi xuống tay mình... Con đường văn học01/05/2008 01:09' PM Khi tôi nhận ra rằng văn học là một thế giới hoang tưởng của người viết thì không có nghĩa là tôi hạ thấp giá trị văn học. Tôi chỉ vạch ra khía cạnh vô bổ, vô nghĩa của văn học mà thôi. Tôi cũng đã cảnh tỉnh để người viết dè chừng khả năng bị tha hóa về mặt tinh thần, đạo đức khi cầm bút viết... Tính nghiêm túc của “những vở kịch”30/05/2007 06:30' AM Nhiều người trong chúng tôi có cảm giác vụng trộm, không vui, tội lỗi rằng chúng tôi thật phù phiếm khi dành hết chú ý vào những tác phẩm kịch trong những gì lẽ ra phải là sự khám phá nghiêm túc di sản văn hóa của chúng ta... Bàn thêm về thuộc tính của nghệ thuật08/05/2007 03:22' PM Mỹ học trước Mác đã đề cập đến các góc độ khác nhau về thuộc tính của nghệ thuật. Mỹ học duy tâm khách quan cho rằng nghệ thuật mang tính chất thần linh, huyền bí. Platôn, nhà triết học Hy Lạp cổ đại quan niệm nghệ sĩ là những người đặc biệt, do thần linh đầu thai xuống trần gian để làm bạn với cái đẹp. Những thiên tài của thế kỷ 2130/03/2007 04:39' PM Ngày nay, mỗi phát hiện là một bước tiến. Nhưng kể cả khi nó nổi tiếng, thì nó cũng chỉ là một viên gạch trên bức tường cao. Những thiên tài như Einstein làm hơi khác: họ lấy ra từ bức tường cũ vài viên gạch, quan sát kỹ rồi xây dựng tòa nhà mới... Giá của tri thức23/02/2007 10:39' AM “Tri thức, bao gồm cả tri thức về phát triển là hàng hóa công cộng toàn cầu” (J.Stiglitz), nhưng các quốc gia giàu có đang sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để ngăn cản sự truyền bá tri thức cho sự phát triển chung cứu thế giới. Nếu tri thức sớm được công nhận là hàng hoá công cộng toàn chữ sẽ đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá.
Thuật ngữ và cuộc sống16/02/2007 11:57' AM “Phong thủy” được xem là một môn khoa học của người Á Đông, phát khởi từ Trung Hoa đã hơn 3.000 năm. Muốn giải thích các môn khoa học của người Trung Hoa bằng phương pháp luận duy vật thì khó hơn lên trời... Vật lý và nghệ thuật22/07/2006 06:55' AM Với tôi vật lý là một môn khoa học đẹp nhất bởi nó cụ thể nhất và trừu tượng nhất. Nguyễn Gia Thiều than: “Sơn hà cũng ảo côn trùng cũng hư” thì với nó cả vũ trụ vô cùng và những hạt nhỏ nhất đều cụ thể. Tuy nhiên giũa cái hư ảo của nghệ thuật và cái cụ thể của vật lý vẫn có các mối liên thông và những nét tương đồng... Sự thật về thuật phong thủy?07/01/2007 06:33' PM Khổ lắm, nói mãi, nhàm tai... nhưng có vẻ như chẳng mấy ai biết rõ cái bí mật này, mà có biết vẫn... dị đoan mới lạ! Rõ ràng là quan điểm gió - nước của người xưa nặng về mê tín dị đoan, xây dựng theo trí tưởng tượng để tự an ủi về những hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt và tai hại mà tri thức thời ấy không thể giải thích nổi... Thơ và vật lý hiện đại13/06/2006 09:12' PM Vào những năm 60 của thế kỷ trước, một sự kiện văn học đã đẩy tôi vào một tình trạng hết sức trầm luân về vật chất cũng như tinh thần... Xuân thu nhã tập bàn về người trí thức04/06/2006 07:57' AM Tôi muốn chúng ta chú ý nhiều đến bài viết bàn về “trí thức” của bộ ba tác giả: Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Lương Ngọc. Riêng tôi, xin được nói ngay đấy là một luận văn xuất sắc, hiếm thấy trong việc bàn về trí thức. Bản luận văn đặt ra các câu hỏi: Trí thức là gì? Thế nào là kẻ trí thức? Làm sao tới được trí thức? Về đặc trưng của chân lý nghệ thuật và tính đặc thù trong sự tiếp cận nó21/05/2006 06:54' PM Thực chất quan điểm giá trị học hiện đại và cũng là quan điểm phổ biến hiện nay muốn nhấn mạnh rằng, khoa học gắn liền với chân lý, còn nghệ thuật gắn liền với giá trị, cái mà thiếu nó, loài người không thể trở nên văn minh, tiến bộ. |
Tôi muốn mượn tiêu đề bài báo của giáo sư sinh lý học Robert Root-Berstein, Viện Đại Học tiểu bang Michigan, trên tạp chí Nhà khoa học Mỹ đầu năm 1997 để bàn về mối quan hệ giữa ý thức và vô thức, giữa trí tưởng tượng và tư duy phân tích trong sáng tạo văn học nghệ thuật và sáng tạo khoa học kỹ thuật, một chủ đề hấp dẫn từng gây nhiều tranh cãi không chỉ tại Việt Nam ta.
Theo Root-Berstein, “con đường đi tới tính khác quan trong khoa học được trải bằng tính chủ quan”. Ông dẫn Einstein, rằng trong khoa học sáng tạo, “trí tưởng tượng quan trọng hơn hiểu biết”; và “khoa học như cái đích theo đuổi cuối cùng mang tính chủ quan và phụ thuộc tâm lý như bất cứ lĩnh vực văn hóa nào của loài người”. Ông nhấn mạnh, mục đích các thí nghiệm, chứng minh và phân tích là xoá bỏ tính chủ quan này trong những kết quả luận cuối cùng của thực tiễn khoa học; nhưng nều bỏ qua nó, thậm chí các cội nguồn tư chất của trí tưởng tượng trong khoa học sẽ làm giảm khả năng của chủ thể. Để minh hoạ, ông dẫn trường hợp Desmond Morris, người nổi danh không chỉ như một nhà sinh học hành vi mà còn như một hoạ sĩ và nhà sản xuất phim theo trường phái siêu thực.
Ngay từ năm 21 tuổi, Morris đã tham gia triển lãm tranh chung với Joan Miró, một trong những hoạ sĩ siêu thực lừng danh nhất. Ông theo đuổi nghệ thuật trước khi nghiên cứu khoa học và quả thật một trong những động cơ nghiên cứu hành vi động vật là ông muốn cải thiện kỹ năng quan sát và vẽ tranh của mình. Như một hệ quả, phong cách khoa học của Morris cũng xuất phát chủ yếu từ chủ nghĩa siêu thực. Nghệ thuật và khoa học của Morris có chung một cơ sở phương pháp luận. Như mọi nhà siêu hình thực, ông dùng giấc mơ để vẽ tranh từ những cảm xúc vô thức. Hơn là điều khiển các hình ảnh, người nghệ sĩ trở thành phương tiện để các bức tranh biểu đạt. Morres cũng dùng phương cách đó trong khoa học. Trong mơ ông trở thành động vật để chiêm nghiệm cái bản ngã của chúng: “Tôi gắng đặt bản thân vào vị trí con vật để những vấn đề của nó trở thành của tôi; và tôi không theem một chút gì xa lạ vào cách hành xử của nó. Chỉ giấc mơ là lên tiếng”.
Xem những bức tranh in trong bài cùng lời bình của Root-Berstein, ta sẽ hiểu vì sao Morris được xem như một nhà tiên phong chủ nghĩa của nghệ thuật ngoại nhân hay nghệ thuật động vật, với mục đích thu thập và phân tích những cái gì là tranh hay bức vẽ của khỉ và vượn. Giống như một số nhà khoa học kiêm người nghệ sĩ khác, Morris cho rằng nghệ thuật đã hướng dẫn con mắt khoa học của ông cách thức “quan sát” chứ không chỉ “nhìn”. Dướng như nghệ thuật cũng giúp Morris phát triển cái mà nhà dân tộc học Konrad Lorenz gọi là “bí mật của cái nhìn”: “Để thực sự hiểu động vật và hành vi của chúng, bạn cần có mỹ cảm về cái đẹp của chúng”. Thiếu niềm vui trong cái nhìn đó, ngay cả một nhà yoga cũng không tìm được sự kiên nhẫn. Nhiều nhà dân tộc học khác cũng nhấn mạnh, chính những xúc cảm thẩm mỹ là chìa khoá thành công của họ.
Tuy nhiên bạn không cần phải là nhà dân tộc học mới nhấn mạnh vai trò thẩm mỹ. Thomas Eisner, nhà sinh thái học Urugoay nghiên cứu các hệ thống thông tin và bảo vệ hoá học của côn trùng, cũng có các giấc mộng như Morris. Ông kể rằng ông từng nói chuyện với côn trùng bằng tiếng Tây Ban Nha: “Một lần tôi mơ thấy mình là một côn trùng và nói với các côn trùng khác rằng, tôi mơ thầy mình biến thành người”. Con Barbara McClintock, người nhận giải Nobel cho những nghiên cứu về di truyền, cũng thường thấy mình hành xử như những nhiễm sắc thể: “Tôi thấy càng làm việc nhiều với chúng, chúng ta càng trở nên to lớn hơn; và khi tôi thật sự làm việc, tôi thấy mình không ở ngoài mà ngay bên trong. Tôi là một phần của hệ thống khảo cứu... Khi bạn ngắm nhìn chúng, chúng trở thành một phần của bạn. Và bạn phải quên bản thân đi. Vấn đề là bạn phải quên bản thân bạn đi”.
Khả năng đồng nhất với đối tượng nghiên cứu cũng phổ biến trong số các nhà khoa học nghiên cứu thế giới động vật. Nhà sinh học Joshua Lederberg và nhà vật lý Jocob Shalam cùng viết là, nhà khoa học cần có khả năng trở thành diễn viên trên sân khấu, đóng thật đạt những vai diễn khác nhau. Các gien hành xử như thế nào? Cái gì là ý nghĩa – thậm chí cảm xúc – vật lý của một hệ phương trình? Jonas Salk thấy mình biến thành virus và tưởng tượng cách đáp ứng của hệ miễn dịch. Nobel gia Jacques Monod đồng nhất mình với “phân tử protein”, hai nhà hoá học Peter Debye và Robert. Woodward vận dụng phương thức tương tự để xem các nguyên tử carbon “muốn” làm gì.
Theo các nhà khoa học trên, sự thấu hiểu từ bên trong đó phát lộ không từ các phương trình hay từ ngữ, mà từ những cảm xúc thấu hiểu đối tượng nghiên cứu toàn thiện đến mức, họ đồng cảm với đối tượng, trở thành một thể thống nhất với nó. Như Eintein có lần viết: “Các thực thể tâm kinh dường như đóng vai trò những cấu tử trong tưởng tượng, trong trường hợp của tôi, thường có bản chất thị giác...Từ ngữ mô tả truyền thống hay các ký hiệu (toán học) khác chỉ xuất hiện ở giai đoạn tiếp sau”. Tương tự là ý kiến nhà luyện kim C.S.Smith: “Giai đoạn khám phá thuần tuý là cảm xúc và toán học chỉ cần thiết để có thể trao đổi với người khác”.
Tóm lại, Morris và những người cùng quan điểm cho rằng, để đạt được một khoa học tốt, có những điều nằm ngoài các giáo trình vẫn thường giảng dạy. Theo họ, logic có thể chúng minh nhưng không thể phát minh. Sự thấu hiểu và cảm hứng khoa học bắt nguồn từ những thấu cảm, cảm xúc, giấc mơ, những cảnh mộng, hay đơn giản hơn theo lời Max Planck (cha để môn cơ học lượng tử và là một nghệ sĩ piano) là sức tưởng tượng sáng tạo mang tính nghệ sĩ.
Morris đang có kế hoạch hướng dẫn mọi người cách kết hợp “trí tưởng tượng và khả năng phân tích – nghệ sĩ và nhà khoa học- làm một”. Theo Root – Berstein, chỉ với cách này các giáo điều hiện hành mới có thể bị thách thức, các khả năng tưởng tượng và các vương quốc của những điều có thể mới được khám phá một cách hữu hiệu.
Việc phân chia trí tuệ con người một cách nhị nguyên như thế co thể thấy ở nhiều nơi. Chẳng hạn đầu những năm 80 tại Trung Quốc từng nổ ra một cuộc tranh luận về chủ đề, giữa nhà khoa học và người nghệ sĩ, ai có tâm hồn phong phú hơn. Các văn nghệ sĩ đã khẳng định tính ưu việt bản thân cho đến khi một nhà khoa học đoạt giải Nobel lên tiếng phản bác. Những ý kiến để cao vô thức, đề cao trực giác, linh hứng, giấc mơ, lên đồng...trong văn học nghệ thuật, trong sáng tạo văn hoá như trên có thể tìm thấy ở mọi thời đại ở khắp nơi trên thế giới. Người ta tin rằng, Mendeleev từng phát hiện Bảng hệ thống tuần hoàn trong một giấc mơ; còn phương trình trường của Einstein, phương trình sóng Schrobinger trong cơ học lượng tử cũng được viết như một sự kết hợp linh diệu giữa logic khoa học và trực giác nghệ sĩ.
Vậy vô thức có vai trò như thế nào trong hoạt động sáng tạo? Đó là câu hỏi gây nhiều tranh cãi. Trong khi các nhà khoa học, nhất là trong lĩnh vực tự nhiên, nhấn mạnh chủ yếu tới ý thức, thì các văn nghệ sĩ đang có khuynh hướng đề cao vô thức. Tại nước ta, sau mấy chục năm độc tôn vô thức, việc đề cao đó cũng là dễ hiểu. Tuy nhiên nếu đề cao một chiều thì lại rơi vào cực đoan, bởi lẽ hoạt động tinh thần là một thể thống nhất mang tính toàn thể, trong đó các quá trình vô thức dưới vỏ và ý thức mức vỏ não luôn hoà quyện với nhau như hình với bóng. Suy cho cùng trí tưởng tượng và khả năng phân tích, tư duy hình tượng và tư duy logic chỉ là hai mặt của một đồng xu, nhấn mạnh quá mức bất cứ mặt nào cũng là phiến diện.
Vậy đâu là vai trò của trực giác, linh cảm, chiêm bao, lên đồng....? Quả thật đó là tiếng nói vô thức, nhưng nếu không có vai trò của ý thức, thì chúng chỉ là những trò chơi tự phát của hệ Neuron dưới vỏ não mà ý nghĩa của chúng thì chính vô thức cũng không hiểu! Theo quan điểm của môn tâm – sinh lý học thần kinh, ý thức liên quan với trí nhớ ngắn hạn, còn vô thức thì với trí nhớ dài hạn. Quá trình nhận thức bắt đầu bằng việc tạo một khuôn mẫu trong trí nhớ ngắn hạn và được tiếp nối bằng sự truy xét cái đồng dạng trong trí nhớ dài hạn. Khi muôn mẫu và cái đồng dạng đủ đồng nhất, hai mạng neuron sẽ cộng hưởng, dẫn tời sự nhận biết có ý thức. Như vậy theo khoa học nhận thức học, sáng tạo là quá trình giao thoa của ý thức, tiếm thức và vô thức, dưới sự chỉ đạo của ý thức.
Phải chăng vô thức của một nhà siêu thực không quan hệ mật thiết với ý thức? Phải chăng một giấc mơ không gắn bó với hiện thực? Phải chăng cánh diều vô thức bay lượn tự do trên bầu trời siêu thực, không chịu bất cứ sự chi phối nào của mặt đất hiện thực? Câu trả lời thật ra không quá khó khăn. Cánh diều chỉ có thể tự do bay lượn nhờ những làn gió siêu thực khi và chỉ khi nó được cột chặt với mặt đất hiện thực bằng sợi dây ý thức. Chính sợi dây ý thức đó quy định cái khoảng không vùng vẫy, cái chiều kích cao rộng của cánh diều. Không có sợi dây ý thức. Chính sợi dây ý thức đó quy định cái khoảng không vùng vẫy, cái chiều kích thích cao rộng của cánh diều. Không có sơi dây ý thức, không thể có trò chơi siêu thực của cánh diều. Không có sợi dây ý thức, không thể có trò chơi siêu thực của cánh diều vô thức. Vì lẽ đó chỉ Medeleev mới mơ thấy Bảng tuần hoàn, chỉ Eistein mới trực giác ra Tương đối luận. Chúng ta phân biệt nhà sáng tạo – cho dù là nhà thơ, nghệ sĩ hay nhà khoa học – với kẻ tâm thần chính ở chỗ có hay không có sợi dây ràng buộc và định hướng vô hình đó. Số lượt đọc:
5227
-
Cập nhật lần cuối:
07/02/2009 10:46:23 AM
Ý kiến của bạn về bài viết:Tổ quốc và "Giai điệu tổ quốc"02/09/2010 11:13' AM Ai cũng có một tình yêu tổ quốc trong tim. Tổ quốc chính là mỗi ngọn núi dòng sông, mỗi làng quê thân thuộc… Mỗi người ở mỗi cương vị khác nhau đều thể hiện tình yêu đó đó bằng cách riêng của mình. Đối với nghệ thuật, đây là lĩnh vực có đặc thù riêng để người nghệ sỹ nói lên tình yêu của mình... Trả lại tên cho một nhà thơ tiền chiến đất Thăng Long02/09/2010 09:28' AM Tôi cầm trên tay tập thơ “Hương sắc Yên hòa” do phường Yên hòa-quận Cầu giấy xuất bản nhân kỷ niệm 10 năm thành lập CLB thơ (1995-2005). Không có gì đáng nói nhiều về tập thơ này, vì nó cũng như bao tập thơ khác sinh ra từ rất nhiều câu lạc bộ thơ tương tự ở các phố phường Thủ đô gần đây, nếu không có phần 2 của tập thơ nhan đề: “Hương xưa”(trang 187). Thoáng một chút thú vị , vì trong phần này có nhắc đến một người mà tên đã trở thành tên một đường phố của Hà nội : “Hoa-Bằng”... Điện ảnh Việt Nam phản ánh hiện thực cuộc sống như thế nào?28/08/2010 08:02' AM Phải chăng không có nhiều phim phản ánh hiện thực cuộc sống đương đại? Hoặc nếu có nhiều phim loại này thì tại sao các phim phản ánh hiện thực cuộc sống hôm nay lại không tạo nên được dấu ấn đậm nét bằng phim chiến tranh? Hợp với nhân sinh22/08/2010 09:56' AM Nghệ thuật sinh ra để bù đắp cái chưa hoàn thiện của con người. Khi xã hội có điều bất cập thì nó lên tiếng, khi xã hội thiếu thốn thì nó vẽ ra những viễn cảnh tương lai. Vì thế cái mới là mục đích, tự do là phương tiện của nghệ thuật – một hoạt động có tính điều chỉnh và tự điều chỉnh cơ chế hoạt động của mình. Điều này phụ thuộc vào ba mặt: hành nghề ở mức độ chuyên nghiệp hóa, yêu cầu một thiết chế nghề nghiệp (luật nghệ thuật) và tự do sáng tạo... Lưu Thị Diễm Hương đăng quang Hoa hậu thế giới người Việt 201022/08/2010 09:47' AM Lưu Thị Diễm Hương, cô gái 20 tuổi đến từ TP.HCM, người được báo chí bầu chọn có gương mặt ăn ảnh nhất đã trở thành chủ nhân của chiếc vương miện trị giá 1 tỷ đồng, lên ngôi Hoa hậu Thế giới Người Việt 2010. Mặc cảm - Tha hóa - Phân thân trong tâm lý người cầm bút21/08/2010 03:54' PM Ở nước nào cũng vậy, một dấu hiệu chứng tỏ xã hội trưởng thành là sự phân công lao động được thúc đẩy mạnh mẽ, đi kèm với nó là sự hình thành tầng lớp trí thức chuyên làm công việc sáng tạo. Của cải mà lớp trí thức này giao nộp cho xã hội là những giá trị tinh thần với tất cả sự phong phú đa nghĩa của hai chữ tinh thần. Trong khi có vẻ sống xa nhân dân thì những gì tốt đẹp mà họ làm ra lại gắn liền với nhân dân. A. P. Chékhov còn nói trí thức, đó là lương tâm của nhân dân nữa... Sự khác biệt mới làm giàu có tâm hồn17/08/2010 06:56' AM “Người đọc có tìm những “khác biệt” để đọc hay còn có những yếu tố khác nữa? Người kinh doanh có quan tâm đến giá trị tinh thần khi lựa chọn “kinh doanh” tác phẩm văn học? Điều gì tạo nên giá trị của tác phẩm văn học Việt Nam?”- đó là những nội dung nhỏ trong buổi trao đổi giữa phóng viên báo điện tử Tổ Quốc với nhà văn Ngô Tự Lập, một nhà văn tiếp xúc nhiều với văn học nước ngoài... Bộ ảnh Hoa hậu Việt Nam 2010 mới đăng quang15/08/2010 11:43' PM Đặng Thị Ngọc Hân, cô gái Hà Nội đã trở thành tân chủ nhân của vương miện Hoa hậu Việt Nam 2010 trong Đêm chung kết Hoa hậu VN 2010. Bắt đầu từ 15/8/2010, cô sinh viên năm thứ 5 ĐH Mỹ Thuật Công Nghiệp HN đã trở thành hoa hậu... Bài khác: Giả mạo trong nghệ thuật có thật sự đáng bị lên án?01/01/1900 12:00' AM Trong khi phần đông ý kiến lên án việc giả mạo trong nghệ thuật, thì một số người lại cho rằng không phải tác giả mà chính chất lượng của tác phẩm mới là yếu tố cần được quan tâm. Hãy nhìn truyện tiếu lâm xưa dưới một cái nhìn khoa học01/01/1900 12:00' AM Tục tĩu, bất nhã, thậm chí vô học, vô văn hoá... đó là những điều mà người ta gán cho một số truyện tiếu lâm. Vị nhân sinh đúng hay sai?19/07/2005 08:32' AM Tia sáng dành cho bạn trẻ số 1, ngày 25-5-2002, đăng bài dịch một bức thư Mỹ “có rồi hẵng cho” với lời đề tựa đầy ấn tượng: “Xin mọi người đọc thuật kỹ và thật bình tâm, đặt một ấm nước, lúc đọc xong là lúc nước sôi, pha bình trà, uống và ngẫm nghĩ về người Mỹ, về quan điểm đạo đức xem nó ra răng”. May mắn là bức thư khá ngắn nên đọc không mất nhiều thời gian cho lắm. Tuy nhiên vấn đề nó đặt ra thì không hề đơn giản là sáng tạo có vị nhân sinh hay không. Tôi xin mạnh dạn trình bày quan điểm cá nhân về vấn đề thú vị này, với mục đích góp thêm một tiếng nói nhằm rộng đường dư luận. Sáng tạo mỹ học từ cái nhìn đơn giản09/07/2005 11:05' AM Sáng tạo là gì? Mỹ học là gì? Đó là những câu hỏi có thể phải trả lời bằng cả ngàn cuốn sách vẫn chưa rõ nghĩa, nhưng như vậy không có nghĩa chúng ta là những phạm trù hù doạ ngăn cản chúng ta sáng tạo. Quan niệm của Các Mác về sự vận động lịch sử của Cái Đẹp trong một số hình thái kinh tế07/07/2005 03:33' PM Một trong những kết luận quan trọng được C.Mác rút ra từ quá trình nghiên cứu về cái đẹp tất yếu này sinh trong tiến trình phát triển của lịch sử. Quy luật của cái đẹp không "nhất thành biết biến" từ một hình thức lao động, một hình thái xã hội nào. Cái đẹp có quy luật phổ biến từ thực tiễn thẩm mỹ. Ở mỗi hình thái xã hội nào, quy luật ấy có sự vận động và biểu hiện khác nhau.... Tranh Nguyễn Thái Tuấn và con mắt Internet06/07/2005 12:07' PM Không vẽ được là chết tươi. Không mới hơn, chết héo. Nguyễn Thái Tuấn đã vẽ trong nỗi sợ “chết” không ngừng đó. Những con mắt to với những đường viền đậm quanh mi đang nhìn, liếc vào cuộc đời từ trên mặt toan (toile), là những cánh cửa mở ra mời gọi ta bước vào thế giới tranh của Nguyễn Thái Tuấn. Và bây giờ, khuất lấp đâu đó là những con mắt hình chữ @: Con Mắt Internet. Từ cái thực chuyển sang cái mơ06/07/2005 12:01' PM Con đường nghệ thuật chính là những cơn mơ, giấc mộng, giúp cho con người một tầm nhìn rộng rãi, sáng sủa hơn về đời sống... Sức sống của một cuộc tranh luận02/07/2005 05:31' PM Trong cuộc tranh luận Nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh trên văn đàn nước ta vào những năm 1935 - 1939, giữa hai phái đã có nhiều kiến giải dẫn đến điểm hội tụ: Đó là tầm nhìn văn hóa rộng, ý thức dân tộc, lòng yêu nước, sự tôn vinh văn chương dân tộc và sự tự ý thức về văn hóa tranh luận. Đó là một trong những nội dung mà chúng tôi tìm thấy trong cuốn: Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh. |