 | Thông tin liên quan: Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hoá phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX11/08/2010 09:04' AM Từ Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch qua Phan Chu Trinh và các nhà nho hoạt động cho Ðông Kinh Nghĩa Thục, trong giới trí thức - thường gọi là các sĩ phu - của nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thấy nổi lên một loạt người có cách nhìn khác đi so với cách giải quyết thông thường các vấn đề xã hội. Vì sao Phạm Quỳnh đặt tên báo là Nam Phong và thường dùng bút hiệu Thượng Chi?20/01/2010 03:12' PM Ngay trong số 1 ra tháng 7 năm 1917 của Nam Phong Văn học-Khoa học tạp chí, Phạm Quỳnh đã viết Mấy nhời nói đầu giới thiệu nội dung tạp chí mới xuất bản. Cuối phần I, ông cảm xúc thốt lên lời cảm thán: “Ôi! trong sách có câu: Gió phương nam ấm áp, khá lấy giải được cái lòng hờn giận của dân ta! (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) Ước gì bản báo cũng khiến được các bạn đọc báo có cái cảm giác như cái cảm giác gió Nam Phong! Bởi thế, đặt tên báo.” Muốn sống...15/12/2009 04:07' PM Tên đại bợm giết người lấy của, chĩa súng sáu vào người ta, nói: “Muốn sống thì đưa tiền đây!”; một trăm người đến chín-mươi-chín-người đành mất tiền cho khỏi chết. “Sinh-mệnh” với “hà-bao”, dầu người ta không ai là không thiết tha cái hà-bao đựng tiền, nhưng ai ai cũng còn trọng cái sinh-mệnh ở đời hơn Chuyện một đêm một ngày15/12/2009 03:00' PM Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm tối xong, tôi đương ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông, và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên khi ở phía dưới. Văn học nước Pháp10/11/2009 06:41' AM Ông không nói hết câu, nhưng nghe cũng hiểu ý ông rằng: “Văn chương "chữ ta" hay lắm, nhưng mà những phường học chữ Tây như các bác không thể hiểu được, và chữ Tây của các bác dẫu có văn chương cũng chẳng đời nào bằng”. Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây25/10/2009 08:25' AM Từ ngày Đông phương và Tây phương giao tiếp nhau thân mật đến cảm hóa lẫn nhau về đường tinh thần, đường tri thức, những bậc đại trí trong thiên hạ để ý nghiên cứu về vấn đề ấy cũng đã nhiều. Nhưng vì cái phạm vi nó to rộng quá, nên chửa ai xem được khắp và xét đến cùng. Đem Đông phương và Tây phương đối nhau, tựa hồ như hai cái khối hồn nhiên đem ra so sánh. Kì thực có giản dị như thế đâu, Đông phương với Tây phương chẳng qua là hai cái tên chung bao gồm biết bao nhiêu dân tộc khác, bao nhiêu văn hóa khác nhau. Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh06/10/2009 03:34' PM Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút Đông Dương tạp chí – Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong tạp chí. Cuộc đời hai Cụ mỗi người một vẻ, nhưng số phận lại có chỗ na ná nhau, với người đời, kẻ đặt lên cao, người hạ xuống thấp. Có điều là thời gian xem ra đang ủng hộ hai Cụ. Chẳng biết, sinh thời, hai cụ gắn bó với nhau tới đâu, nhưng cứ vào bài thơ Cụ Quỳnh khóc Cụ Vĩnh năm 1936 thì tình bạn của hai cụ chắc là thắm thiết lắm. Phạm Quỳnh - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-193208/08/2009 06:52' AM Cái văn bản Phạm Quỳnh mấy chục năm qua đã thoát hình hài trần thế để được thoả sức yêu cái đẹp thiên giới, nơi đó không còn triết học và thực dụng, không còn lo âu và toan tính, không còn ảo tượng và vỡ mộng. Văn bản đó sẽ để lại trong lòng người những tác phẩm như thế nào đây? Điều đó hoàn toàn là của riêng bạn đọc. Mấy lời giới thiệu phiến diện này cũng chỉ là một trong vô vàn tác phẩm mà thôi. Phạm Quỳnh: Ngọn gió Nam15/07/2009 02:09' PM Nam Phong (1917-1934) là một trong những tạp chí có công rất lớn trong việc cổ động cho văn học quốc ngữ, cho nền quốc học Việt Nam. Đặc biệt cho việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam trên cơ sở kết hợp, dung hòa hai nền văn chương, học thuật, tư tưởng Đông – Tây. Các biên tập viên giữ các chuyên mục của tạp chí đều là những cây bút vững vàng, sắc sảo, nhạy bén với những vấn đề văn hóa, trong đó phải kể đến ông chủ bút là Phạm Quỳnh. Khái luận về văn minh học thuật nước Pháp04/07/2009 02:00' PM Văn minh học thuật một nước là tiêu biểu cho tinh thần nước ấy. Tinh thần ấy phát hiện ra nhiều cách, nhưng rút lại có mấy cái đặc tính nó phân biệt nước ấy với các nước khác, khiến cho nước ấy có một cái hình dạng riêng trong vạn quốc, một cái địa vị riêng trong thế giới. Thơ ta thơ tây03/07/2009 01:33' PM Như muốn vẽ bức tranh thì con mắt phải nhìn trong cảnh vật mà thu lấy cái hình ảnh, rồi mới tìm cách truyền thần ra giấy ra lụa. Muốn làm bài thơ cũng vậy, trong trí phải tưởng tượng ra một cái cảnh, hoặc là cảnh thiên nhiên, hoặc là cảnh trong tâm giới, rồi dùng những âm hưởng thích đáng mà gọi, mà kêu nó lên, khiến cho người nghe cũng phảng phất tưởng tượng như thế. Hai đàng cùng là vẽ cả, một đàng là vẽ cách trực tiếp, một đàng là vẽ cách gián tiếp, nhưng đều muốn khêu gợi ra mối tư tưởng cảm tình trong tâm trí người ta vậy. Ngôn ngữ mới của nước Nam03/07/2009 10:46' AM Không thể chối cãi là hiện giờ đang có một ngôn ngữ mới của nước Nam đa dạng hơn, uyển chuyển hơn, đủ khả năng hơn cho sự diễn tả các tư tưởng mới và các quan niệm trừu tượng so với ngôn ngữ đó cách đây mười lăm, hai mươi năm. Tự ngôn03/07/2009 10:37' AM Báo Nam Phong cũng là tiêu biểu cho một thời kì trong công cuộc cải tạo quốc văn, đề xướng quốc học. Quốc văn sau này còn tấn tới nhiều, quốc học sau này còn mở mang rộng. Nhưng cái bước đầu khó khăn cũng nên ghi nhớ lấy, để có thể so sánh trước sau hơn trước thế nào. Sau hơn trước là lẽ cố nhiên, nhưng có trước thì mới có sau thời trước đối với sau cũng không phải là tuyệt vô quan hệ. In lại Nhật ký đi Pháp của Phạm Quỳnh02/07/2009 10:27' AM Pháp du hành trình nhật ký (Nhật ký đi Pháp) của Phạm Quỳnh vừa được in lại sau mấy chục năm ngủ yên trong tạp chí Nam Phong suốt từ 1922 tới nay. Nhân dịp này, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn- người thực hiện việc biên soạn và chú giải – có dịp trao đổi với TT&VH về giá trị của tập sách cũng như về việc khai thác bộ phận văn học viết bằng quốc ngữ đầu thế kỷ 20. Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX29/06/2009 09:34' PM Khi một người có hoạt động thực sự trên lĩnh vực văn hoá, trở thành có đóng góp về văn hoá, người đó nhất thiết phải có tình cảm tốt đẹp và sâu sắc với dân tộc, với đất nước. Ấy là niềm tin đến với chúng tôi khi lần giở lại Nam Phong. Nó cũng là nhân tố giúp chúng tôi yên tâm khi tìm hiểu những đóng góp của Phạm Quỳnh trong sự tiếp nhận văn hoá phương Tây và góp phần hình thành nền văn hoá mới của dân tộc trong thời hiện đại. |
Thơ có hai phần: một là âm điệu, hai là tình tứ. Âm điệu là phần hình thức, tình tứ là phần tinh thần. Âm điệu tức là cách dùng chữ xếp vần, cho có âm hưởng tiết tấu để đọc cho êm tai vui miệng. Tiếng mỗi nước một khác thì âm điệu cũng không giống nhau, nên thi luật của nước nào là riêng cho nước ấy, không thể chuyển dịch sang tiếng nước khác được. Đến như tình tứ thì tức là cảm hứng. Cảm hứng thuộc về lòng người, lòng người thì dẫu nước nào, đời nào cũng là một, cũng sướng, cũng khổ, cũng vui, cũng buồn như nhau, cũng đem bấy nhiêu tình cảm mà thổ lộ ra lời hát câu ca. Song cảm hứng có khi sâu, có khi nông, có khi cao, có khi thấp, có khi rộng, có khi hẹp; trình độ phạm vi kể cũng sai biệt nhau lắm. Cùng một tình cảm mà mỗi người cảm ra một cách, tùy theo tư tưởng, học vấn, giáo dục, kinh lịch của mỗi người. Bởi thế nên thơ cũng ví như cây đàn trăm giây, gẩy ra nhiều khúc kỳ kỳ lạ lạ, tiếng bổng, tiếng trầm, tiếng khoan, tiếng nhặt, âm hưởng biến hóa vô cùng.
Như thơ nôm ta thì âm điệu liền với tiếng ta, không thể bắt chước tiếng khác mà thay đổi được. Nên muốn sửa lối thơ cũ phải dần dần tùy theo tiếng nói trong nước, không thể một ngày phá được cái khuôn đã dùng từ xưa đến nay. Nhưng đến tình tứ của thơ nôm ta thì có lẽ không được dồi dào lắm, cảm hứng không được phong phú bằng thơ các nước; tuy không phải là không có cái thú thanh tao, cái giọng thâm trầm, nhưng dường như “ngắn hơi” không hô hấp được mạnh, đọc lên có cái cảm giác như con chim con chưa bay lên đã mỏi cánh, mong sao mà vượt bể lên ngàn được?
Ngày nay muốn cho thơ nôm phát đạt, chưa cần sửa lại âm điệu vội, cốt nhất nuôi lấy cảm hứng trước. Đã có cảm hứng thì tức tìm được âm điệu xứng đáng; không có cảm hứng thì dẫu âm điệu xứng đáng; không có cảm hứng thì dẫu âm điệu hay, chẳng qua cũng mới chỉ là thợ, chưa gọi là thơ được. Ở nước ta hạng “thợ thơ” vẫn có nhiều, mà thi nhân chân chính thì ít lắm.
Làm thế nào gây được những hạng thi nhân mới cho quốc âm ta? Thiết tưởng không gì bằng giới thiệu cho biết các thi gia có tiếng của Âu châu, nhất là nước Pháp, vì văn chương Pháp ta có thể trực tiếp mà thưởng thức được.
Từ xưa đến nay ta thuần chịu ảnh hưởng của thơ Tàu, ảnh hưởng ấy lâu ngày sâu quá làm mất cả đặc sắc của thơ ta, thành ra lắm khi thơ nôm cũng chỉ là những “bức vẽ” của thơ Tàu mà thôi. Nhưng bấy lâu ta đã bắt chước hình thể âm điệu của thơ Tàu rồi, nay thử quay về Âu tây mà đón lấy cái luồng tư tưởng, gió cảm hứng mới. Cảm hứng của thơ Tây cũng có lắm vẻ li kỳ tuyệt thú, xưa nay ta chưa từng được biết bao giờ. Người Tây dùng lời thơ vẽ được hết cảnh vật trong trời đất, diễn được hết tâm lý trong người ta. Nếu các nhà thơ ta bắt chước mà gây lấy những mối cảm hứng mới mẻ đó để thay vào mấy cái sáo cũ xưa nay, thì thơ nôm mới có tấn tới được.
Nay hãy tạm giới thiệu một thi nhân nước Pháp về thế kỷ trước: Baudelaire.
Baudelaire mất năm nay vừa được năm mươi năm, mới rồi bên Pháp làm lễ kỷ niệm, nhân đó các báo Tây có bàn về thơ ông nhiều lắm. Theo pháp luật hiện hành, bản quyền về tác phẩm của các nhà làm sách sau khi chết rồi còn giữ được năm mươi năm nữa, ngoài hạn ấy mới thuộc về của chung, ai muốn in muốn dịch cũng được. Từ nay thơ văn của Baudelaire thành của chung của thiên hạ, các nhà xuất bản sẽ đua nhau mà in lại những tác phẩm của ông, lưu truyền được rộng. Văn chương có giá trị, văn chương thật “bất hủ” là kể tự cái kỳ hạn năm mươi năm này mới có thể định luận được. Nhà văn nào qua được các “hạn” này mà hậu thế còn đọc đến sách vở mới có thể mong liệt vào hạng “bất tử” được.
Baudelaire là một nhà thơ có tài nhất ở nước Pháp về thế kỷ thứ 19. Kể từ khi tạ thế đến giờ, thanh danh mỗi ngày một tăng lên, hiện bây giờ không ai là không đọc đến tên. Tác phẩm của ông không có mấy: trừ mấy quyển bàn về mỹ thuật, một bộ dịch đoản thiên tiểu thuyết của văn hào nước Mỹ Edgar Poe, một tập đề là “Những chốn thiên đường nhân tạo” (les Paradis artificiels) tả cái khoái lạc của nha phiến, rượu bồ đào, thuốc Ả-rập (1), toàn là những thứ làm cho mê mẩn tinh thần, gây nên những cuộc mộng lạ, văn chương rất là kỳ diệu, một tập “Thơ vắn bằng tản văn” (Petils poèmes en prose) cũng kỳ thú mà khác thường lắm; trừ bấy nhiêu bộ, duy chỉ có tập thơ đề là “Ác hoa” (Fleurs du mal), là tuyệt tác hơn cả. Túng sử bình sinh chỉ để lại một tập thơ ấy cũng đủ hưởng vinh dự đời đời. Tập thơ ấy như luyện như đúc không biết bao nhiêu tư tưởng kỳ lạ, phản chiếu cho ta những chốn thâm sơn cùng cốc trong chân thân mộng cảnh của người đời. Lắm bài ý tứ thâm trầm, lúc mới đầu không mấy người hiểu, cho ông là người hiếu kỳ, người điên, người cuồng. Nhưng càng đọc càng nghĩ càng thấy thấm thía, mới biết là bậc thiên tài, đã từng thông thuộc hết những khóe u ẩn trong cõi lòng người. Bởi thế nên đọc thơ ông có cái cảm sâu xa vô cùng.
Ông hoài bão rất cao thượng, nhất sinh chỉ mê các “tuyệt phẩm”. Trông thấy những sự xấu xa ô uế của người đời, trông thấy những thói đê tiện hèn mạt của xã hội, trong lòng khinh bỉ và chán nản vô cùng. Như thế thì sống ở đời này chịu sao cho được? Nên ông coi đời người là một cái nghiệp báo, không biết lấy gì làm thú nữa. Lại thêm từ thuở trẻ đã khánh kiệt gia tài, mang lấy tật bệnh, cái nợ sống nặng nề mà đau đớn biết dường nào! Thân thế ông là một cuộc thảm thê vô cùng. Suốt đời không được một lúc nào sướng, mấy năm cuối cùng lại là những năm khổ hơn nhất. Các thi nhân khác cũng lắm người khổ sở nhiều, nhưng thường gặp được chút ái tình của người tri kỷ, cũng làm cho nguôi sự phiền não ở đời. Đến như ông thì ái tình cũng trắc trở và gian nan. Còn cái vinh dự thì sinh thời chưa từng được hưởng bao giờ, họa là gặp mấy bạn tri âm cảm phục mà thôi.
Ông vốn người thảng thích, không hề đem lòng oán giận căm tức bao giờ. Nhưng thơ văn của ông cực tả cái cảnh éo le của mộng hồn đối với chân cảnh một trời một vực xa nhau. Các nhà phê bình Tây thường nói thơ ông đã cống hiến cho người đời một cái “rùng mình mới lạ” (un frisson nouveau). Cái “rùng mình” ấy chính là sự cảm sâu xa mà đau đớn về cái cảnh éo le rất bi thảm kia.
 |
| Bìa tập thơ "Ác hoa", | Trong tập thơ “Ác hoa” ( Fleurs du mal), phần nhiều bài đề là “Sự Ưu uất cùng cái Tuyệt phẩm” (Spleen et Idéal). Cổ kim dễ chưa có thi nhân nào có tài tả những sự ghê thảm, uất ức, bực tức, u sầu bằng ông. Ông vốn ham những mĩ lệ trang nghiêm, nhưng tả những cảnh ấy không phải để cầu lấy sự khoái lạc cho mình, tả ra chỉ để chứng cho cái sầu khổ ở đời, tả ra để cho biết rằng ở đời không hề có vậy. Nhưng ông cũng rất ham sự thực nữa, lấy làm của báu nhất ở đời. Bình sinh đã bỏ hết lòng hi vọng với đời, nên chỉ nhất thiết nghĩ sự thực, nói sự thực mà thôi. Không hề lấy văn chương điêu trác mà dối đời. Một đời ông đã từng trải đủ mọi cảnh khổ: cảnh nghèo, cảnh ốm, cảnh đói, cảnh rét, cảnh đau đớn, cảnh bi thương, cảnh mất người yêu, cảnh bị lừa, cảnh mong mà không có được, cảnh tránh mà gặp, bấy nhiêu cái đều đến cùng, đến cực điểm, mà làm cho héo gan đứt ruột. Bấy nhiêu nông nỗi ông chịu khổ thế nào, ông nói ra như vậy: bởi thế nên lời thơ của ông bi đát vô cùng.
Ông lại là bậc thiên tài, nên đã tìm được những giọng tuyệt diệu trong tiếng Pháp để diễn cái cảm lạ, cái kỳ thú, cái mộng ghê, cái nhớ thảm ấy. Vả xưa nay tình tứ lạ với lời thơ hay vẫn do một nguồn mà ra vậy.
Các nhà phê bình bàn về thơ ông thật nhiều, vì nhiều người khâm phục tài ông. Nhưng chưa ai khám phá được cái bí quyết của văn chương ông. Thơ ông là thơ tuyệt diệu, mà lại có cái đặc sắc không lẫn với thơ người khác được .Thơ vừa có tính cách như “vẽ”, vừa có tính cách như “đàn”, nghĩa là đọc lên không những vui tai như tiếng đàn hay, mà lại hình như trông thấy cảnh hiển hiện ra trước mắt như bức tranh đẹp nữa.
Một thi nhân như thế là một nhân vật chung của cả thế giới, không phải riêng của một nước nữa. Vì cái đầu bài trong văn chương người ấy cũng chỉ có một không hai là thân thế con người ta, là cảnh khổ ở đời này. Thân thế ấy, cảnh khổ này, người ấy đã giãi bày ra cho ta một cách thảm thiết thâm trầm. Dẫu người đời nào, người nước nào đọc những câu thơ ấy cũng hình như vẳng nghe tiếng đông vọng ở trong lòng vậy.
Sau này lục mấy bài thơ của Baudelaire dịch nôm na ra quốc ngữ, để phụ vào lời giới thiệu ở trên.
Một bài đề là “U uất” (Spleen)
Quan le ciel bas lourd pèse comme un couvercle Sur l’esprit gémissanten proie auux lóng ennuis, Et que l’horizon embrassant tuot cercle Il nous verse un juor noir plus triste que les nuits Quand la terre est changée en un cachot humide, Oùu l’Escpérance comme une chauve-souris S’ven va battant les nurs de son aile timide Et se cognant la tête à des plafonds puorris;
Quand la pluie estalant ses immenses trainees D’une vast prion imite les barreaux, Et qu’un peuple muet d’infâmes araignées Vient tendre ses filets au fond de cerveaux;
Des cloches tout à coup sautent avec furie Ei lancent vers le ciel un affreux hurlement, Ainis se mettent à geindre opiniâtrement.
Et de longs corbillards sans tambours ni musique Defilent lentement dans mon aame; l’Espoir, Vaincu, pleure et l’Angoisse atroce, despolique, Sur mon crâne incliné plante son drapeau noir.
Dịch nghĩa:
“Những khi trong lòng ai oán buồn bực không dứt trời thấp nặng chình chịch như cái vung, bao lung cả chân mây góc bể mà trút xuống cho ta một cái ngày tối thảm hơn là đêm;
Những khi mặt đất biến thành địa ngục tối, để giam cái thần hi vọng ở trong, khác nào như con dơi bay trong nhà hoang, đập cánh vào tường ẩm, đâm đầu vào trần mục;
Những khi mưa trút nước xuống tựa như đặt dóng sắt vào cái nhà tù lớn, mà trong tâm não ta thì hình như có vô số nhưng con nhện xù uế đến chăng dây mắc mạng;
Những khi ấy, tiếng chuông tiếng trống ở đâu bỗng nổi lên đùng đùng, tung lên trời những tiếng kêu gầm thét, như một lũ oan hồn chưa thác đồng thanh mà rền rĩ thiết tha.
Bấy giờ tôi tưởng như trong hồn tôi đương trẩy lũ lượt những đám ma, không kèn không trống, lẳng lặng mà đi. Thần Hi Vọng bị thất bại khóc dưng dức, thần Sầu khổ được đắc khổ đắc thắng ra tay tàn ác dầm đầu tôi xuống mà chôn lá cờ đen trong óc”.
Lời thơ kỳ thay! Hợp những câu tỉ dụ rất ghê rất thảm mà hình dung ra cái “U sầu” ở trong lòng, nó gặm nhấm gan đục óc người ta; thật là một giọng thơ quái lạ.

Một bài đề là “Chuộc mình” (La Rancon):
L’ homme , pour payer sa rancon Deux champs au tuf profond et riche, Qu’il faut qu’il remue défriche, Avec le fer de la raison:
Pour obtenir la moindre rose, Pour extorquer quelques épis, Des pleurs salés de on font gris Sans cesse il faut les arrose.
L’un est l’Art et l’Amour, - Puor rendre le juge propice, Lorsque de la stricte justice Paraitra le terrínble juor.
Il faudra lui montrer des granges Pleines de moissons, et des fleurs Dont les formes et les couleurs Gagnent le suffrange des Anges.
“Trời đã cho người ta để lấy mà chuộc mình, hai cánh đồng đất sâu và tốt, phải bừa, phải sới, bằng cái cày cái cuốc của linh tính;
Muốn cho mọc được một bông hồng nhỏ, muốn cho nảy được mấy bông lúa sơ, phải lấy mồ hôi nước mắt trên trán đen mà tẩm tưới không dời.
Một cánh đồng là Mỹ thuật, một cánh đồng là Ái tình. Muốn cho đến ngày ghê gớm là ngày “xử án” sau cùng được lòng Thượng Đế.
Thì bây giờ phải có những lẫm thóc đầy, những cụm hoa nở, hình đẹp sắc tươi, để đẹp mắt ưng lòng các vị thiên thần ngồi thẩm phán.”
Bài thơ này ý nghĩa cũng thâm trầm lắm. Ý nói rằng người ta sống ở đời như để làm trọn một cái nghiệp báo, không phải có sung sướng gì. Muốn cho trọn nghiệp báo ấy, chỉ nên thờ cái “Đẹp” ở trong trí, nuôi cái “Yêu” ở trong lòng, có thế thì ngõ hầu mới mong chuộc được mình trong cõi sầu khổ này.
Một bài đề là “Bình tĩnh” (Recueillement)
Sois sage, ô ma Douleur et tiens- toi plus tranquille, Tu resclamais le soir; il descend; le voici; Une atmosphère obscure enveloppe la ville, Aux uns portant la paix, aux autres le souci.
Penant que des mortels la multitude vile Sous le fouet du Plaisir, ce bourrean sans merci, Va cueillir des remords dans la fête servile, Ma douleur, donne-moi la main; viens par ici.
Loin d’eux. Vois se pencher, les défuntes Années Sur les balcons du ciel en robes surannées; Surgir du fond des eaux le Regret souriant
Le soleil moribond s’endormir sous une arche, Et comme long linceul trainant à l’Orient. Entends, ma chère, entends la douce Nuit qui marche.
Dịch nghĩa: “Hỡi bạn đau đớn của ta ơi! Nên lẳng lặng mà chớ băn khoăn. Mình muốn cho chiều tối: Chiều đã đến, tối đây này. Khi tối bao bọc nơi thành thị, khiến cho kẻ này được bằng dạ, kẻ kia phải rối lòng.
“Trong khi lũ người đời hèn mạt bị cái thần khoái lạc tàn ác nó thúc nó giục, xô nhau vào chốn ăn đê tiện để chuốc lấy cái ăn năn trong lòng, hỡi bạn Đau đớn của ta ơi! Mình đưa tay ta dắt, lại đây với ta,
Xa chúng nó. Mình trông lên chốn bao lơn trên trời kia, thấy những thần năm xưa tháng cũ, còn mặc áo cựu thời, cúi nhìn xuống với ta; mình trông ở nơi đây nước kia, cái thần Thương tiếc mỉm cười với ta;
Mình trông vầng mặt trời tàn sắp lặn dưới bóng hào quang. Mình nghe, hỡi mình nghe thần Đêm đương lẳng lặng đi, như kéo về miền Đông một tấm dạ phủ quan dài.”
Từ xưa đến nay những bậc đại thi nhân vẫn lấy cái Đau đớn làm bạn, mà dễ ở đời không có bạn nào thủy chung bằng bạn ấy. Phàm người đã mang tấm lòng cao thượng mới biết bạn ấy là quí. Nhưng khi bóng chiều đã xế, cảnh vật thê lương, cái sầu vô hạn chan chứa trong lòng trông thấy lũ người đời vô tri vô giác xô đẩy nhau vào chốn ăn chơi, bấy giờ muốn ôm muốn cầm, muốn bồng muốn bế lấy cái bạn đau đớn kia mà cùng nhau nguyện ước trăm năm cho cam cái thân bất tục ở đời! Nguồn:
Thượng Chi văn tập - Bộ Quốc gia giáo dục, 1962 Số lượt đọc:
617
-
Cập nhật lần cuối:
03/06/2009 04:56:27 PM
Ý kiến của bạn về bài viết:Tổ quốc và "Giai điệu tổ quốc"02/09/2010 11:13' AM Ai cũng có một tình yêu tổ quốc trong tim. Tổ quốc chính là mỗi ngọn núi dòng sông, mỗi làng quê thân thuộc… Mỗi người ở mỗi cương vị khác nhau đều thể hiện tình yêu đó đó bằng cách riêng của mình. Đối với nghệ thuật, đây là lĩnh vực có đặc thù riêng để người nghệ sỹ nói lên tình yêu của mình... Trả lại tên cho một nhà thơ tiền chiến đất Thăng Long02/09/2010 09:28' AM Tôi cầm trên tay tập thơ “Hương sắc Yên hòa” do phường Yên hòa-quận Cầu giấy xuất bản nhân kỷ niệm 10 năm thành lập CLB thơ (1995-2005). Không có gì đáng nói nhiều về tập thơ này, vì nó cũng như bao tập thơ khác sinh ra từ rất nhiều câu lạc bộ thơ tương tự ở các phố phường Thủ đô gần đây, nếu không có phần 2 của tập thơ nhan đề: “Hương xưa”(trang 187). Thoáng một chút thú vị , vì trong phần này có nhắc đến một người mà tên đã trở thành tên một đường phố của Hà nội : “Hoa-Bằng”... Điện ảnh Việt Nam phản ánh hiện thực cuộc sống như thế nào?28/08/2010 08:02' AM Phải chăng không có nhiều phim phản ánh hiện thực cuộc sống đương đại? Hoặc nếu có nhiều phim loại này thì tại sao các phim phản ánh hiện thực cuộc sống hôm nay lại không tạo nên được dấu ấn đậm nét bằng phim chiến tranh? Hợp với nhân sinh22/08/2010 09:56' AM Nghệ thuật sinh ra để bù đắp cái chưa hoàn thiện của con người. Khi xã hội có điều bất cập thì nó lên tiếng, khi xã hội thiếu thốn thì nó vẽ ra những viễn cảnh tương lai. Vì thế cái mới là mục đích, tự do là phương tiện của nghệ thuật – một hoạt động có tính điều chỉnh và tự điều chỉnh cơ chế hoạt động của mình. Điều này phụ thuộc vào ba mặt: hành nghề ở mức độ chuyên nghiệp hóa, yêu cầu một thiết chế nghề nghiệp (luật nghệ thuật) và tự do sáng tạo... Lưu Thị Diễm Hương đăng quang Hoa hậu thế giới người Việt 201022/08/2010 09:47' AM Lưu Thị Diễm Hương, cô gái 20 tuổi đến từ TP.HCM, người được báo chí bầu chọn có gương mặt ăn ảnh nhất đã trở thành chủ nhân của chiếc vương miện trị giá 1 tỷ đồng, lên ngôi Hoa hậu Thế giới Người Việt 2010. Mặc cảm - Tha hóa - Phân thân trong tâm lý người cầm bút21/08/2010 03:54' PM Ở nước nào cũng vậy, một dấu hiệu chứng tỏ xã hội trưởng thành là sự phân công lao động được thúc đẩy mạnh mẽ, đi kèm với nó là sự hình thành tầng lớp trí thức chuyên làm công việc sáng tạo. Của cải mà lớp trí thức này giao nộp cho xã hội là những giá trị tinh thần với tất cả sự phong phú đa nghĩa của hai chữ tinh thần. Trong khi có vẻ sống xa nhân dân thì những gì tốt đẹp mà họ làm ra lại gắn liền với nhân dân. A. P. Chékhov còn nói trí thức, đó là lương tâm của nhân dân nữa... Sự khác biệt mới làm giàu có tâm hồn17/08/2010 06:56' AM “Người đọc có tìm những “khác biệt” để đọc hay còn có những yếu tố khác nữa? Người kinh doanh có quan tâm đến giá trị tinh thần khi lựa chọn “kinh doanh” tác phẩm văn học? Điều gì tạo nên giá trị của tác phẩm văn học Việt Nam?”- đó là những nội dung nhỏ trong buổi trao đổi giữa phóng viên báo điện tử Tổ Quốc với nhà văn Ngô Tự Lập, một nhà văn tiếp xúc nhiều với văn học nước ngoài... Bộ ảnh Hoa hậu Việt Nam 2010 mới đăng quang15/08/2010 11:43' PM Đặng Thị Ngọc Hân, cô gái Hà Nội đã trở thành tân chủ nhân của vương miện Hoa hậu Việt Nam 2010 trong Đêm chung kết Hoa hậu VN 2010. Bắt đầu từ 15/8/2010, cô sinh viên năm thứ 5 ĐH Mỹ Thuật Công Nghiệp HN đã trở thành hoa hậu... Bài khác: Giả mạo trong nghệ thuật có thật sự đáng bị lên án?01/01/1900 12:00' AM Trong khi phần đông ý kiến lên án việc giả mạo trong nghệ thuật, thì một số người lại cho rằng không phải tác giả mà chính chất lượng của tác phẩm mới là yếu tố cần được quan tâm. Phát giác về ngôn ngữ thân xác01/06/2009 10:25' AM Nếu như văn học hiện đại thế giới có công phát hiện ra ngôn ngữ văn tự, thì văn học hậu hiện đại hôm nay lại đang dần tước mất vai trò thống trị của nó. Nguyễn Đình Thi bước chân khổng lồ chậm dần đều30/05/2009 11:47' AM Nghĩ về tầm vóc của Nguyễn Đình Thi làm tôi liên tưởng ngang tầm vóc của một Thánh Gióng, nghĩa là, một con người ngang phút mở màn khai trận đã trở thành anh hùng, mặc áo giáp sắt, nhảy lên ngựa sắt, vác gậy sắt xông thẳng ra trận tiền và quân thù dường như chỉ còn là thứ bùn bé nhỏ… Người Việt đẹp27/05/2009 01:05' PM Trong văn hóa Việt Nam thế kỷ XX không đâu ta trông rõ những biến đổi về sắc đẹp của người phụ nữ như trong hội họa. Cảm nhận của họa sĩ Nguyễn Bỉnh Quân về tinh hoa người Việt đẹp. Vẽ người… khó, vẽ ma… dễ25/05/2009 05:23' PM Nếu mọi yếu tố nghệ thuật của văn học hiện đại hầu hết được thể hiện một cách tập trung, liền mạch thì ngược lại, ở văn học hậu hiện đại, các yếu tố đó được thể hiện một cách phân tán, rải rác như thể những mảnh vỡ. Do cấu trúc như thế mà một tác phẩm văn học hiện đại như là một hành trình về đích, còn văn học hậu hiện đại là một hành trình còn dang dở... Các nhà văn hậu hiện đại luôn hạn chế một cách tối đa sự bộc lộ chủ quan của mình. Phê bình nghệ thuật: Viết không có độc giả *04/05/2009 11:40' AM Phê bình nghệ thuật đang gặp khủng hoảng toàn cầu. Giọng điệu của nó trở nên yếu ớt, và bản thân nó đang bị tan loãng vào nền phông lộn xộn của ngành phê bình văn hóa mì ăn liền. Song sự suy tàn của nó không phải là cú thở hắt cuối kết của một thực hành đang đến giờ lâm chung, bởi cũng vào ngay chính lúc này đây, phê bình nghệ thuật đang khỏe mạnh hơn bao giờ hết. Chữ "văn" chữ "báo" khéo là...03/05/2009 02:21' PM Tính sơ sơ trong 300 hội viên hội Nhà văn Hà Nội có dễ tới ngót trăm người đang hoặc đã ăn lương ở các tòa soạn. Xửa xừa xưa có các anh Yên Thao, Băng Sơn, Vân Long..., lớp bánh tẻ có Anh Ngọc, Vũ Đình Minh... Mới làm độ mươi năm nay là những Giáng Vân, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái... Đó là một đội ngũ mà đời sống công chức, đời sống văn học của họ có những nét vừa thuận tiện, vừa phức tạp... Xem phim "Đừng đốt": Thông điệp của lòng yêu thương28/04/2009 07:04' AM Phim "Đừng đốt" được xây dựng theo cuốn nhật ký, những câu huyện về nữ liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Bộ phim là một bản anh hùng ca hoành tráng, đáp ứng lòng mong mỏi và tình cảm của những người ngưỡng mộ, yêu mến nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm... |