Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Quan sát, khám phá    Cách giải thích, lý giải    Ý nghĩa - giá trị    Thời sự - Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 60.248.396
Số người trực tuyến: 444
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Tuổi trẻ - Bước vào đường thơ và trên đường thơ

Nguyễn Hoàng Đức
Báo Văn nghệ trẻ, số 11, 20-4-1997
   
10:10' AM - Thứ ba, 24/03/2009

Tôi cũng là một người trẻ tuổi mới bước vào hành trình theo đuổi Nàng Thơ. Không! Thực ra, nói đúng hơn, tôi mới đang tập tọe làm thơ. Vậy giống như một giọt nước đang hoà mình trong dòng thơ cuộn chảy, tôi xin bàn về dòng thơ của lớp trẻ hôm nay, từ khởi nguồn, đường đi, dự phóng, và cứu cánh. Với lớp trẻ chúng ta, con đường thơ vẫn đang ở phía trước, tương lai vẫn đang ở phía trước, chúng ta chưa phải những giọt nước đã tới đích, để ngoái cổ nhìn lại hành trình thơ đã thành tựu của mình. Bởi vậy, theo tôi, lối nhìn thơ theo cách - ở trong dòng thơ, nhắm dự phóng dòng thơ, và tìm đến cứu cánh của dòng thơ - là cách nhìn toàn thể về hành trình thơ của chúng ta.

Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức

- Sinh năm 1957, học đại học An Ninh
- Anh là một người khác thường mà nhà thơ Đỗ Minh Tuấn gọi là "Anh hề triết học, chàng Đông-ki-sốt văn chương"

Tác phẩm đã in
1. Ý hướng tính văn chương. Chuyên luận và 9 cuốn khác.

Tác phẩm sắp in
1. Ngưỡng cửa làm người (tiểu thuyết, 2 tập, và 12 cuốn khác)
2. Người Việt Nam tự ngắm mình (chuyên luận)
3. Hành trình nhận thức duy niệm của nhân loại (chuyên luận, chungta.com đăng nhiều kỳ)
4. Hành trình tâm linh nhân loại (chuyên luận, sắp đăng tại chungta.com)
5. Công lý và Dục vọng (chuyên luận, sắp đăng tại chungta.com)
6. Quan phẩm và Nhân phẩm (chungta.com đăng nhiều kỳ)

Xem trang Tác giả...

Khởi đầu, tôi xin điểm lại hành trang thơ mà chúng ta đang có hay đã đạt được. Trước hết phải thấy rằng lớp trẻ hôm nay từ ngỡ ngàng đã dần chuyển mình thích ứng với cuộc xoay vần lớn của thời đại - và đang trở thành nhân tố gây men mới cho thời đại. Một thời đại thi ca cùng lúc chứa đựng hai cuộc xoay vần vĩ đại.

1. Cuộc xoay vần lịch sử: Đất nước đã kết thúc chiến tranh chuyển sang hoà bình. Không giống lớp đàn anh đã phơi mình trước những làn đạn chì, dùng máu mình cùng dân tộc viết lên những trang sử hào hùng; lớp trẻ hôm nay lại đang phơi thân trước những làn đạn bọc đường của hoà bình đổ mồ hôi cùng dân tộc dấn thân vào sự nghiệp thầm lặng cam go - xây nên một nền văn hoá mới. Đây là một cuộc xoay vần rất trọng đại. Nhiều triết gia đã cho rằng "Hoà bình chỉ là những trang trắng của lịch sử" - vậy lớp đàn anh đã đổ xương máu cho những trang sử dày chữ chiến công của dân tộc - và nhiều sử gia cũng cho rằng: "Hoà bình là sự nghiệp của văn minh." Kim tự tháp, vườn treo Ba-bi-lon, văn hoá Hy Lạp... đều được kiến thiết trong hoà bình, nếu như trong chiến tranh dân tộc phải thử thách gian nan trong máu lửa, chiến lược, chiến thuật, và binh pháp, thì trong hoà bình dân tộc lại phải đối mặt trước sự nghiệp đầy cam go của việc kiến thiết các công trình văn minh - văn hoá. Và lớp nhà thơ trẻ hôm nay đã cùng dân tộc dấn thân vào sự nghiệp của hoà bình. Cuộc xoay vần của dân tộc cũng chính là cuộc xoay vần đề tài của các thế thệ thơ. Thơ trong chiến tranh là nhắm phía trước - đi tới khải hoàn môn. Nhưng thơ hoà bình là toả ra mênh mông gặt hái mọi giá trị của dân tộc để xây lên một xã hội toàn năng, toàn bích, và tiến bộ. Chính vậy, hoà bình đã đặt các nhà thơ trẻ trước đề tài muôn sắc, phải nhìn, phải phát hiện cuộc sóng ở mọi góc cạnh. Và các nhà thơ trẻ đã toả đi, lao vào vỡ vạc thử nghiệm những luống cày mới của mình, mới đầu ngỡ ngàng - nhỏ bé sau quen tay và cứ lớn dần lên, mới đầu còn vụng về thiếu tự tin sau cứ tinh tế dần và tự tin hơn. Có thể nói đây là những thành tựu bước đầu trong đề tài nghệ thuật của lớp trẻ hôm nay... và cũng chỉ mới đến đó thôi... nhưng tất cả hãy còn ở phía trước…

2. Cuộc xoay vần của thi ca: Cùng lúc với sự xoay vần của dân tộc, lớp trẻ bị cuốn vào dòng xoáy tưởng như bình thản nhưng đầy quyết liệt của thi ca. Đó là cuộc chuyển mình đưa nghệ thuật từ cung đình xuống "vỉa hè" đời sống, một cuộc dấn thân, một engagé, một embarqué, một cuộc xuống tàu cuốc đời.

William Shakespeare (1564–1616)

Xưa kia nghệ thuật Đông - Tây, các vở Hăm-lét, Vua Lia, và các vở tuồng chèo đều lấy cung đình làm trung tâm của nghệ thuật. Bởi lẽ cung đình là nơi gặp gỡ - xung đột của mọi giá trị cao nhất như: quyền lực liền bạc, anh tài, gái sắc... Nhưng nghệ thuật hiện đại đã ly thân khỏi cung đình vẻn vẹn có đám người trâm anh thế phiệt để xuống thế giữa cuộc đời lầm lụi - nơi muôn vàn con người đang đối mặt với những vấn đề của cuộc sống. Bằng cách nào mà nghệ thuật quần chúng có thể thay thế các giá trị cao cấp của nghệ thuật cung đình? Bằng cách nâng cấp toàn bộ đời sống nhân quần lên chót vót đỉnh cao của công chính, tình yêu, và văn hóa! Từ nay, không chỉ có hoàng tử và công chúa mới biết sống - biết yêu, mà tất cả "thảo dân" đều muốn sống - muốn yêu! Nâng cấp toàn thể đời sống nhân quần lên đỉnh cao nghệ thuật - đó chính là gánh nặng trên vai các thi sĩ thời hiện đại. Và lớp thơ trẻ Việt Nam cũng đã đưa vai đỡ lấy gánh nặng này. Đây cũng chính là gánh nặng mới mang tính loại suy của đề tài nghệ thuật. Trước kia, các thi sĩ đàn anh phải chịu gian nan trong đời sống thì lại được nhẹ gánh trong cuộc tìm kiếm đề tài - bởi chẳng có gì hệ trọng hơn sự sinh tử của một dân tộc cũng như mỗi cá nhân - và chính tính hệ trọng cốt tử đó đã làm nên đề tài trọng đại cho những vần thơ. Còn ngay nay, đề tài của lớp thơ trẻ, tuy thiếu vắng tiếng gầm của phi cơ trọng pháo, khói lửa, sự tàn sát uy hiếp trực tiếp đời sống của cuộc chiến, thì lại phải đối đầu trước vô vàn số phận đang bị gặm nhấm chết dần chết mòn bởi những siêu vi trùng HIV, ma tuý, mãi dâm, sự hoành hành của đồng tiền, văn hoá suy đồi, nhân phẩm xuống cấp... Xét về tính đề tài, thì rõ ràng đề tài của lớp đàn anh hào hùng hơn, còn đề tài của lớp đàn em bình dân hơn. Hai nhánh đề tài, thi ca nhân loại và thi ca dân tộc đều hợp lại một dòng: Hình mẫu con người hình dị của đời sống hoà bình. Hình mẫu con người càng "nhẹ gánh " trong đời sống thì lại càng "nặng gánh" trong nghệ thuật. Đây chính là gánh nặng của lớp thơ trẻ ngày nay. Và ít nhiều lớp thơ trẻ cũng đã xoay sở gánh vác gánh nặng này.

Cụ thể, về bút pháp, những ý tưởng đã rọi phóng ra nhiều chiều kích của đời sống - hướng nhìn vào cuộc đời ngày càng thêm đa dạng và phong phú; hình thức ngày càng bứt khỏi khuôn khổ bốn câu của Thơ Đường và lối gieo vần lục bát; ngôn từ đã manh nha bóng dáng của nhạc - hoạ hiện đại; văn hoá - tri thức ngày càng đóng vai trò yếu tố biểu cảm - thơ suy tưởng mỗi ngày một nhiều hơn; biểu tượng thơ đa phức - đa tầng hơn... Đó là những gì các nhà thơ trẻ đang gieo mầm trên cánh đồng mới vỡ hoang của mình, bước đầu còn rất khiêm tốn, và mùa gặt mới chỉ xuất hiện lác đác chỗ này - chỗ kia...

Johan Becher có nói: "Cái lớn của một nhà thơ là khả năng tự mình trở thành đã tượng", vậy trước hết chúng ta hãy quan sát chính mình qua các câu hỏi đầu tiên: Ta là ai? Ta là tác giả nào? Ta đứng đâu? Ta viết cái gì? Ta viết cho ai? Nghệ thuật tức là cuộc tinh chất từ đời sống, bởi thế qua những màng lọc của những câu hỏi này, tôi muốn cùng các bạn trẻ trở về nơi khởi thuỷ và xuôi dòng thơ trẻ hôm nay, để nhận diện chính mình và con đường đi tới:

Về nhà thơ nhân loại (hay nhà thơ phổ quát):

Sự trở về của Odysseus, Claude Lorrain, 1644.

Xưa kia, các nhà thơ Hy Lạp chỉ đóng vai trò ngâm vịnh "mua vui" trên đường đi tới đấu trường của các ô-lem-pic, và bị xã hội chỉ coi là những kẻ có chức phận cao hơn đào kép một chút - tức là người tự hát xướng những bài hát của mình. Nhưng kể từ khi Hô-me ôm cây đàn lia cổ ngâm lên những vấn thơ đầy giông tố của thân phận con người qua trường ca Ô-đi-xê và I-li-át bất hủ thì chân trời thơ đã mở ra lồng lộng, và chỗ đứng của thi nhân đã được Tôn vinh nâng cấp một lần cho tất cả. Từ đây không ai dám coi thi nhân chỉ là kẻ hát xướng mua vui nữa, mà là một kẻ hành hương vác thập giá cho tâm hồn con người bằng những bài ca máu thịt của mình. Kể từ đây, thi ca cũng đồng nghĩa với thân phận con người, định mệnh làm người, và bi hùng kịch con người lịch sử. Phát huy vai trò định mệnh của mình, sau thời phục hưng, các thi sĩ hiện đại còn mang sứ mệnh tiên tri cho những con đường của tư duy nghệ thuật, chính họ chứ không phải ai khác, đã làm ra nghệ thuật tiền phong (avant garde), chủ nghĩa lãng mạn, chủ ngữ tượng trưng, và chủ nghĩa siêu thực... sau thơ hậu hiện đại, thi sĩ càng nổi lên rõ hơn trong vai trò một nhà tư tưởng trong thơ. Vì thế, Béc-tôn Brêcht thật chí lý khi nói :"Nhà văn ở thời đại chúng ta đồng thời phải là một nhà triết học, nếu không nghệ thuật chỉ còn là một công việc bếp núc". Vậy thì thi ca hiện đại không có chỗ đứng cho thứ gọi là "thi nhân" lãng tử - vui đâu chầu đấy – kè kè bầu rượu túi thơ, đi tìm sới hát xướng mua vui cho đời. Mà thi nhân hiện đại là thi nhân dấn thân vào định mệnh của con người biến nước mắt của nhân loại thành tiếng hát vô biên.

Về nhà thơ dân tộc:

Khi bước vào thi ca, không mấy nhà thơ trẻ chúng ta không mang niềm tự hào, rằng chúng ta hân hạnh được sinh ra thi xứ sở yêu thi ca từ vạn cổ. Đây hiển nhiên là một niềm tự hệ chính đáng. Nhưng tiếc thay có rất nhiều nhà thơ trẻ cứ mải mê trôi vào niềm tự hào này mà ru ngủ chính mình trong sự cố gắng vươn lên. Về điểm này, chúng ta nên thức tỉnh mới nhận đã rằng: một dân tộc không có khả năng thi ca là một dân tộc sơ cứng tâm hồn, và sẽ đáng thương hại. Bởi vậy, tự hào thay đời sống thi ca của dân tộc ta! Nhưng cũng cần nhận biết một sự thật khác, đó là: một dân tộc không trau dồi khả năng tư duy luận lý sẽ trở thành một dân tộc đáng thương về trí tuệ! Và các nhà thơ của dân lộc ta như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Quí Đôn... đã nêu cao gương sáng trong việc vừa bổ dưỡng hồn thơ lại vừa trau đồi kiến thức ở mức cao nhất. Nhìn sang Trung Quốc chẳng hạn, chúng ta thấy đó vừa là xứ sở của Thơ Đường, vừa là cái nôi của Lão Giáo, Khổng Giáo, và Kinh Dịch. Nhìn sang Hy Lạp, thấy đó vừa là quê hương của thi sĩ Hô-me vừa là đất sống của Arixtốt. Nhìn sang Pháp, thấy đó vừa là đất mẹ của các thi nhân lại vừa là chốn sinh ra của các nhà triết học… Có rất nhiều nhà thơ trẻ chúng ta mở đầu sự nghiệp bằng trang thơ rất xán lạn và khả vọng, song hồn thơ đó cứ hao hụt mãi đi vì chẳng được bồi bổ gì thêm. Khổng Tử có nói : "Bất học thi, vô dĩ ngôn" (không học thơ, biết lấy gì để nói). Còn lãnh tụ Các mác thì nói: "Hãy chấp nhận con người như con người ... bạn chỉ có thể lấy tình yêu đổi lấy tình yêu... nếu bạn muốn hưởng nghệ thuật bạn phải là con người được huấn luyện rành về nghệ thuật". Vậy hiển nhiên, muốn làm thơ trước hết bạn phải tự đào luyện về thơ. Bạn tập có trách nhiệm với thơ của mình bằng cách học hỏi, biết thẩm giá, biết gạn lọc, biết gạch xoá, và biết tựu thành; sau đó với thơ người khác bạn phải tập có trách nhiệm - khen chê "đúng địa chỉ". Nhà thơ có thể bay trên đôi cánh mông lung của trí tưởng tượng, nhưng phải đi trên đôi chân dò dẫm từng bước một của trí tuệ, và chính đôi chân đó sẽ là bệ nhún tạo đà để đôi cánh của bạn vút bay lên.

Về thiên bẩm thơ:

Rất nhiều nhà thơ trẻ chúng ta tự nhận rằng mình sinh ra với thiên bẩm làm thơ chính vậy họ tự rơi vào chứng thoả mãn, và mắc thói quen luôn biện hộ rằng - người khác có học nhiều cũng không thể làm được thơ. Và rút cục, chúng ta đã thấy nhiều nụ thơ vừa kịp khai hoa đã rụng trước khi thành quả. Trước hết, chúng ta hãy ngắm lại các nhà thơ lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Quí Đôn... Tản Đà... đều thấy rõ họ trở thành nhà thơ lớn của dân tộc không phải do thiên bẩm thơ mà do đã đào luyện một khả năng tri thức và văn hoá ở mức siêu phàm. Trước mắt chúng ta có một thí dụ rất minh xác. Đó là trường hợp của nhà thơ Trần Đăng Khoa, có lẽ chẳng một ai trong chúng ta dám nhận rằng mình được ban nhiều thiên bẩm thơ hơn anh! Song ánh sáng ngôi sao thơ đó đã không chiếu sáng mãi từ thủa ấu nhi đến lúc trưởng thành. Nhìn ra thế giới. có một thí dụ còn điển hình hơn, đó là nhạc sĩ Mô-da, người chứa ân sủng thiên bẩm nhiều nhất thế giới, vậy mà ông đã viết cho cha mình: "Cha có hiểu, con bị âm nhạc nuốt chửng, bởi vậy con bận rộn với nó suốt ngày - suy tư, nghiên cứu, quan sát". Ít ra thì chúng ta cũng nên học Mô-da. Thiên bẩm chỉ là đốm lửa đầu tiên, và nếu nó không có phao dầu luôn đổ đầy thêm của tâm hồn để đốt bùng lên, thì mãi mãi chỉ là một đốm lửa mà thôi.

Bài viết đã dài, trong khi tôi còn muốn bàn về hai phấn cốt yếu nữa, đó là về "Thơ như là sống đời nghệ thuật" hay "Lối nói vần và sự nổi tiếng" vậy xin hẹp gặp các bạn "đồng thơ trẻ" vào dịp khác. Cuối cùng hy vọng rằng sau trang sử thi ca hào hùng của lớp đàn anh đã viết lên, chúng ta sẽ viết tiếp trang sử bình dị sâu lắng của hoà bình. Giống như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết: "Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa".

Số lượt đọc:  374  -  Cập nhật lần cuối:  24/03/2009 10:31:57 AM
  Ý kiến của bạn về bài viết:
Bài mới:  
Hợp với nhân sinh
22/08/2010 09:56' AM
Bài khác:
Dễ và khó
20/03/2009
Liên kết web
Trang chủGiới thiệuLiên hệ