Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Quan sát, khám phá    Cách giải thích, lý giải    Ý nghĩa - giá trị    Thời sự - Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 60.254.463
Số người trực tuyến: 438
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Người Việt tự sỉ để tự tôn

Người Việt tự ngắm mình

Nguyễn Hoàng Đức   
09:35' AM - Chủ nhật, 08/02/2009

Mục lục

I. Lý do để cuốn sách này có mặt - Nhìn người mà ngẫm đến ta

  1. “Anh em khinh trước, làng nước khinh sau”
  2. Tự xét đoán để khỏi bị xét đoán
  3. Không có quan toà nào lớn hơn ta cả
  4. “Yên Quốc rồi mới yên gia”
  5. Làm việc thì dễ, làm người mới khó

II. Thước để ngắm mình

  1. Thành thật là nội dung thật của mọi hạnh phúc ở đời
  2. Phân biệt minh bạch trật tự, và phán xét là điều kiện tất yếu cho mỗi cá nhân và xã hội phát triển
  3. Sở trường là con đường phát huy cao nhất, là sở thích đạt tới hạnh phúc lớn nhất của cá nhân
  4. Ba phần của cơ thể đầu, tim, dạ dày tương ứng với ba cấp độ làm người
  5. Sức khoẻ, trí tuệ, điều độ, khoan dung, và công lý là bốn điều kiện sống tất yếu của mỗi cá nhân, cũng như xã hội

III. Đào luyện con người

  1. Đạo đức là thói quen về điều thiện
  2. Mặc cảm tự ti
  3. Phản tỉnh căn tính “nô bộc”

IV. Nhìn người mà ngẫm đến ta

V. Tự ngắm mình

  1. Ngồi xổm
  2. Đi đất
  3. Mặc quần áo ngủ ra đường
  4. Văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền
  5. Dở ông dở thằng, làm thầy không nổi làm tớ cũng chẳng xong
  6. Ăn đói nằm co còn hơn ăn no vác nặng
  7. Ăn nhanh, đi chậm, đái đường, hôn bụi dậm
  8. Ăn xó mó niêu
  9. Ăn vặt, khôn vặt, dâm vặt, gian vặt
  10. Phép vua thua lệ làng
  11. Người khôn ăn nói nửa chừng, làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo
  12. Cả vú lấp miệng em - Còi to cho vượt
  13. Ngậm miệng ăn tiền
  14. Tâm khẩu bất đồng: Khiêm tốn vờ - kiêu hãnh lén - Khen vờ - chê giả
  15. Được ăn, được nói, được gói mang về
  16. Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình
  17. Gia trưởng độc đoán
  18. Ích kỷ, đố kỵ. trâu buộc ghét trâu ăn
  19. Nịnh trên, đạp dưới, đá ngang
  20. Tính khí thất thường: mai nắng - trưa mưa - chiều nồm
  21. Đầu voi đuôi chuột
  22. Thể hiện nhiều, thực hiện kém

VI. Tổng quát


I. Lý do để cuốn sách này có mặt

Nhìn người mà ngẫm đến ta

Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con
Tản Đà

Đầu thế kỷ XX, thi sĩ Tản Đà là một cây bút thông kim bác cổ, thạo cả Đông học và Tây học, trong tham chiếu tầm vóc của nhân loại, đã đưa ra nhận xét thẳng thắn trên.

Nghĩ cho sâu, thấy rằng, thi sĩ, học giả Tản Đà là một người rất yêu quê hương giống nòi. Ông là tác giả của bài thơ “Thề non nước”:

Nước non nặng một lời thề

Nước đi, đi mãi, không về cùng non

...

Dù cho sông cạn đá mòn

Còn non còn nước, hãy còn thề xưa.

...

Nghìn năm giao ước kết đôi

Non non nước nước không nguôi lời thề


Vậy mà ông phản tỉnh dân tộc một cách thẳng thắn như vậy, chúng ta không thể nào xem nhẹ.

Tầm vóc trí tuệ một dân tộc đã phát triển chín chắn được đo bằng cái gì? Nhìn sang Ấn Độ thế kỷ XX, thánh Gandhi còn dậy dân ấn phải có phẩm chất độc lập để sống trong độc lập. Lãnh tụ Tôn Trung Sơn huấn luyện nhân dân bằng “Chủ Nghĩa Tam Dân” để mở màn bước vào thời đại mới, hay Dân tộc Nhật Bản còn đang lo củng cố phong trào “Minh trị Duy tân”... Tầm vóc trí tuệ cao nhất của một dân tộc được đo bằng khả năng luận lý của họ! Chính vì vậy mà qua nhiều đại hội quan trọng, qua nhiều phương tiện thông tin, chính phủ cùng các cơ quan hữu quan của ta đã cảnh báo: “công tác lý luận ở ta còn yếu kém”.

Đã sang thiên niên kỷ thứ III, từ hạt nhân mà thi sĩ Tản Đà đã gieo hạt, có lẽ rất cần thiết để chúng ta nhìn nhận “cái hay - tật xấu” của người Việt bằng con mắt luận lý. Bởi nếu dân tộc, trước hết là đội ngũ trí thức không nhìn thấy thì dân gian sẽ nhìn thấy bằng cách ám thị và phiếm chỉ, rồi người bên ngoài cũng không thể đứng ngoài hoàn cảnh - đòi nhận xét chúng ta.

Mới đây có một câu chuyện tiếu lâm bàn về tầm vóc chưa thành quý ông của người Việt rằng. ở quán karaoke kia, có các em mắt xanh mỏ đỏ chuyên nghề “đưa người cửa trước, rước người cửa sau” tâm sự rằng:

“Có nhiều người đến với chúng em, ô tô có, xe máy có, xích lô có, thương gia có, học giả có, quan chức có. Mới đầu, ngoài cửa chúng em gọi họ là “các ông”, “các chú”, “các bác”. Khi vào đến bên trong rồi thì chúng em gọi tất cả bọn họ là “anh”. Nhưng khi xong xuôi, tiễn họ về thì chúng em coi tất cả bọn họ chỉ là “thằng”

Như vậy trong mắt các em, một bộ phận đàn ông, dù ông hay bác, dù học cao hay học thấp, dù giầu hay nghèo, dù chức to hay chức nhỏ, vẫn chưa thấy các “quý ông”, mà mới chỉ thấy các “quý thằng” đem ví ra đổi lấy thú vui da thịt.

Để hiểu thêm điều này, một lần, có một nhạc sĩ sau khi đi thư giãn “giọng hát vàng” cùng “bàn tay vàng” trong một quán karaoke về tâm sự cùng tôi: Con người nếu không cẩn thận, thì càng già lại càng thụt lùi thành đứa trẻ con nhiều tuổi. Thử ngẫm mà xem lúc trẻ lao vào học hành, trong đầu ôm bao nhiêu hoài bão cùng lý tưởng. Về già, khi có cả tiền, cả danh, cả quyền lại chỉ lo du hí những trò chơi của một thân xác co rút lại, thì có nghèo nàn về tâm hồn không? Ăn nhiều, uống lắm, suốt ngày có phải chỉ lo thêm cho chiếc dạ dày? “Hát mỏi tay” trên làn da của các em, có phải cách chỉ bố xung cho thận? Còn lại đời sống của tâm hồn hay trí tuệ thì nằm ở góc nào?

Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức

- Sinh năm 1957, học đại học An Ninh
- Anh là một người khác thường mà nhà thơ Đỗ Minh Tuấn gọi là "Anh hề triết học, chàng Đông-ki-sốt văn chương"

Tác phẩm đã in
1. Ý hướng tính văn chương. Chuyên luận và 9 cuốn khác.

Tác phẩm sắp in
1. Ngưỡng cửa làm người (tiểu thuyết, 2 tập, và 12 cuốn khác)
2. Người Việt Nam tự ngắm mình (chuyên luận)
3. Hành trình nhận thức duy niệm của nhân loại (chuyên luận, chungta.com đăng nhiều kỳ)
4. Hành trình tâm linh nhân loại (chuyên luận, sắp đăng tại chungta.com)
5. Công lý và Dục vọng (chuyên luận, sắp đăng tại chungta.com)
6. Quan phẩm và Nhân phẩm (chungta.com đăng nhiều kỳ)

Xem trang Tác giả...

Nếu không có đời sống của tâm hồn, chỉ có đời sống cho bản năng, thì không chỉ 4.000 năm, mà có thể đến cả 4 triệu năm, chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi vòng thơ ấu Vì như các nhà triết học và sinh học đã chắc chắn thừa nhận: Bản năng không bao giờ thay đổi, chỉ có duy trì và bảo tồn. Duy nhất chỉ có lý trí mới phát triển và tiến bộ.

Lý luận là chặng phát triển cao nhất của trí tuệ. Vậy mà nhìn vào đời sống tri thức cũng như văn hoá của chúng ta hiện nay, thấy đâu đâu cũng nhan nhản các hội thơ về hưu, hội thơ xã, hội thơ chị em, hội thơ thanh xuân... Ngay Tết Nguyên tiêu Quý Mùi vừa qua, tại Văn Miếu Hà Nội, đã diễn ra “Ngày thơ Việt Nam”, hay còn gọi là “lễ hội thơ”. Nhiều tờ báo đã đăng tải ngày lễ buồn đến vạ vật của thơ, không có khán giả, chỉ có vài nhà thơ không phân biệt cấp quốc gia hay làng xã, ra ra vào vào, đọc mấy vần thơ tẻ nhạt. Báo “An ninh Thế giới” ra ngày 20/2/2003, viết bài “Nàng Thơ cũng nhạt, phản ánh rõ ngày hội không đủ sinh khí thở hiu hiu của các nhà thơ xứ ta. Tại sao, “Kễ thờ” diễn ra ở một nơi trang nghiêm nhất, thậm chí được kéo cả cờ thơ, nghĩa là được Nhà nước và nhân dân ưu đãi mọi lẽ mọi đàng, mà lại chỉ có niềm vui rặt rẹo đến vậy? Câu trả lời là:

- Thứ nhất: Lễ hội là sinh hoạt làng xã đến thế kỷ XXI sẽ không mấy thích hợp với các nhà thơ - được mệnh danh là ngành chữ nghĩa. Chữ nghĩa thì phải đem giáo hoá, đem sống giữa cuộc đời bằng những “giáo luật” sáng tác từ não, từ tim một cách nghiêm cẩn. Đằng này, các nhà thơ không chịu khó leo lên tháp ngà đó (đa số rất thiếu chuẩn bị về học vấn và văn hoá), đành lui xuống “chơi thơ” theo lối lễ hội làng. Than ôi, lễ hội làng thật, còn diễn trò nọ trò kia cho người đến xem, như người đời bảo “có tích mới dịch lên trò”. Đằng này các nhà thơ chẳng có thứ “tích” nào ngoài vài câu văn vần mang nặng cảm tính hoa - lá - cỏ vụn vặt, thì hòng gì diễn lên trò. Lại chỉ có lối khoe khéo khoe khôn xếp vần vặt vãnh thì làm sao có người đến xem cho nổi?

- Thứ hai: Triết gia Hegel cho rằng: Một cuộc họp mặt muốn thành công chí ít phải có một diễn văn hay. Diễn văn - nghĩa là tính tư tưởng, hoặc tính “Đề tài” phải nổi lên mạnh mẽ và cuốn hút. Nhưng làm sao nổi? Vào lúc này, độc giả thừa biết, các nhà thơ lổn nhổn được cả nước, cả dân tộc cưng chiều từ trung ương đến làng xã, không có đủ trình độ đúc kết mấy vần thơ cảm xúc thành “đề tài”. Vì thế mà tại “lễ thơ”, khi dân tộc đã giành cho các nhà thơ mọi điều kiện ưu đãi nhất, họ cũng không thể “có bột mà gột lên hồ”.

Nền văn hoá của một dân tộc nếu mới chỉ lấy nền thơ chung làm đỉnh điểm thì chưa thể có nhận thức trưởng thành. Không chỉ với thơ, nhìn qua kịch bản “Màn ảnh du lịch” ở xứ ta thì thường thấy. Mở màn ống kính quay núi non hùng vĩ, sông duyên dáng, thành phố cổ kính; rồi sau đó là các cô gái trẻ đi bộ hoặc thong dong đạp xe cả nhóm... Điều đó nói lên cái gì?

Trong các chương trình giới thiệu của thế giới, mở màn người ta sẽ quay những quang cảnh thuộc “văn hoá vật thể” tức các công trình kiến trúc: quảng trường, nhà thờ, nhà hát... Sau đó sẽ quay về các văn hoá “phi vật thể” thuộc giá trị của lịch sử, tinh thần, hay danh nhân.

Vậy mà nếu chúng ta không biết phô mình, thì thành phố dù cổ kính rêu phong đến đâu, rút cục chẳng có gì trưởng thành để khoe, ngoài vài cô gái chưa có gì nhiều hơn “vốn tự nhiên”.

Khi thi sĩ Tản Đà nhìn ra:

Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con

thì có cay nghiệt, quá quắt không?

Ngay Trung Quốc là một cường quốc về dân số và lịch sử, vậy mà trong cuốn “Chủ Nghĩa Tam Dân” của mình, lãnh tụ Tôn Trung Sơn cũng nói. ở Trung Quốc, mới chỉ có các cuộc chiến tranh liên miên giành đất, giành ngôi báu, và giành đàn bà, mà chưa có các cuộc chiến tranh giành tư tưởng và tôn giáo.

Đất đai, ghế ngồi, đàn bà mới chỉ là những quyền lợi cho bản năng, chưa thể là những lý do chứng tỏ sự trưởng thành của những con người chín muồi về tư tưởng.

Thiết nghĩ, cái nhìn của Tôn Trung Sơn rất gần gũi với dân tộc Việt Nam, và như vậy chúng ta không nên quá ngạc nhiên trước cái nhìn của thi sĩ Tản Đà. Và tôi viết cuốn sách này, mục đích của nó là mong ngụp lặn về chiều dọc - chiều sâu cỗi rễ của dân tộc, “gạn đục khơi trong” mong được cùng dân tộc có ngày gầy đây được khải hoàn ca trên quảng trường Tiến bộ - Lương tri - Nhân bản, sánh vai cùng những bước chân hàng đầu của toàn nhân loại.

Trang:  1/3  1   2   3   »
Số lượt đọc:  15475  -  Cập nhật lần cuối:  07/04/2009 02:23:12 PM
  Trao đổi/Nhận xétTổng số:  5
Cảm ơn tác giả bài viết
Dinh thi hoai thuong  - Email:  hoaithuongdinhthi@yahoo.com.vn   (06/06/2010 09:08:06 AM)
Tôi thấy thế hệ trẻ ngày nay càng ngày càng thấy mất đi giá trị đích thực của cuộc sống, ngày càng chìm đắm trong những giá trị ảo, tôi mong những bài viết như thế này ngày càng nhiều để cuộc sống sẽ trở nên có ý nghĩa hơn.
Người trẻ cần quan tâm đến sĩ diện của chính mình
Nguyễn Văn Tâm  - Email:  Ductam.ts@gmail.com   (24/08/2009 10:42:42 AM)
Cảm ơn tác giả rất nhiều vì đã dám chỉ ra những thói hư tật xấu của chính chúng ta. Tôi hy vọng ngày càng nhận được nhiều những tài liệu quý như vậy để làm vốn sống và có thể phổ biến cho được nhiều người.

Đặc biệt các bạn trẻ hãy xem những kiến thức trong cuốn sách nhỏ này làm hành trang, bạn đồng hành để bước vào đời.
Cần tiến hành sâu rộng hơn nữa
Nguyễn Minh Hóa  - Email:  hoagia23@yahoo.com   (11/06/2009 09:06:03 AM)
Chúng ta đã quá quen với những từ ca ngợi chính mình. Đất nước ta tài nguyên phong phú, đất đai màu mỡ phì nhiêu. Dân tộc ta thông minh cần cù, chịu khó... Rõ ràng đó là những thứ chúng ta có nhưng chúng ta còn thiếu những gì, chúng ta yếu ở đâu thì rất ít khi nhắc tới.

Hi vọng những bài viết như thế này sẽ thức tỉnh chúng ta, giúp chúng ta tự sửa mình để ngày càng tốt hơn!
Cám ơn tác giả
Nguyễn Văn Quang   (08/02/2009 10:26:47 PM)
Tôi thích những bài viết chân thực, gần gũi với cuộc sống như thế này. Nếu nhìn vào những công trình kiến trúc, khoa học, những tác phẩm văn hóa và nghệ thuật, thì hoàn toàn có lý mà chua xót nói rằng "dân tám mươi tư triệu ai người lớn?" Với hiện tại và tiềm năng hiện tại rất đau lòng để nhận ra rằng chẳng biết đến bao giờ dân tộc mới trưởng thành.

Hiện nay có một số người sống gấp gáp và vội vã hưởng thụ. Tôi ko nghĩ là họ càng sống vội như thế thì cuộc sống của họ sẽ dài hơn hay họ sẽ nhanh chóng trưởng thành. Tôi thấy rất cần những phút nhìn lại mình dù chỉ là một chút thôi. Để cảm nhận, để điều chỉnh thái độ và sự đúng đắn của hành vi.

Tôi cũng như tác giả mong rằng đến một ngày kia sẽ có những lớp người trưởng thành thực sự cùng với sự lao động cần mẫn và nghiêm túc, họ sẽ cho ra đời được những công trình kiến trúc, khoa học, và những tác phẩm văn hóa nghệ thuật tạo được dấu ấn với thế giới.

Rất cám ơn tác giả về bài viết có ý nghĩa này.
Người Việt đang cần một cuộc cách mạng về thang giá trị
Đỗ Công Trình  - Email:  dotrinhcordially@gmail.com   (08/02/2009 04:38:08 PM)
Tôi thường xuyên theo dõi trang "chungta.com". Đọc hết bài này rồi, dừng lại trong tôi vẫn chỉ là cảm tưởng về một người có cái tâm với vấn đề thời đại của dân tộc-"Dân tộc tính".

Đã từ lâu, trên chungta.com, có chủ đề thói hư tật xấu của người Việt, nhưng hầu hết trong tất cả, chưa có được lấy một sự tổng kết đủ thấu đáo vấn đề. Hầu hết tất cả những bài đã có cũng chỉ xoay quanh được đầu bài là "Thói hư tật xấu người Việt" để làm đề tài với ham muốn hướng đến một sự thay đổi để nâng tầm dân tộc nên một nấc nữa.

Tôi cho là với cách đặt đầu bài và ham muốn như thế là chưa tương xứng. Vĩ rõ ràng với đầu bài như thế này, hầu như nhiều biểu hiện chi tiết liên can đến thói quen, đến văn hóa của người Việt cũng đã được điểm qua với sắc thái bình phẩm chủ quan rất nặng, và cũng chỉ loanh quanh những tiểu tiết đó mà thiếu đi được cái nhìn tổng quan. Vậy đã đến lúc chúng ta để cho "đầu bài" tiến hóa đến tầm ham muốn của nó hay chưa? Tôi cho là đã đến lúc rồi.

Với tôi, tôi sẽ đặt đầu bài là: "Thói quen, tính cách, thang giá trị của người Việt là gì?", chúng đã dẫn chúng ta đi những đâu, sẽ về đâu? Cần phải làm gì với chúng? Tôi cho rằng vấn đề dân tộc tính của chúng ta hiện nay là: "Người Việt cần một cuộc cách mạng về thang giá trị". Tôi lấy ví dụ, một trong những thói quen đang kìm hãm dân tộc chúng ta là thiếu "Triệt để", vậy thiếu "Triệt để" thì là như thế nào, nó ảnh hưởng như thế nào với mỗi chúng ta, tại sao lại vậy, cần phải làm gì với nó? Hay như trong giáo dục, chúng ta ai cũng hiểu giáo dục phổ thông là để truyền lại kiến thức của thế hệ đi trước, giáo dục đại học là sinh viên phải biết hết, giải quyết hết những vấn đề hiện tại thì rõ ràng là thành quả của mỗi học sinh là số các "chữ" biết được, thành quả mỗi sinh viên là các "chữ " làm được, nhưng chúng ta đang đo đạc nó, tôn vinh nó như thế nào? chưa ai chỉ ra cả...
  Ý kiến của bạn về bài viết:
Bài mới:  
Miền hoang tưởng
05/09/2010 11:18' AM
Chẩn bệnh ảo tưởng
24/08/2010 09:55' AM
Nói bóng nói gió
31/07/2010 09:25' AM
Bài khác:
Đường hoa
22/01/2009
Liên kết web
Trang chủGiới thiệuLiên hệ